Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2019

Thuốc trào ngược axit thông thường khiến nâng cao nguy cơ ung thư dạ dày

Thuốc ức chế bơm proton, được dùng để điều trị trào ngược axit, là 1 trong những chiếc thuốc được kê đơn phổ biến nhất trên thế giới. Nhưng bây giờ, 1 nghiên cứu mới kết luận rằng họ có thể khiến nâng cao nguy cơ ung thư bao tử nếu như tiêu dùng trong 1 thời kì dài.

Theo một nghiên cứu mới đây, thuốc trào ngược axit với thể khiến cho nâng cao nguy cơ ung thư bao tử.[/caption]

Helicobacter pylori là 1 mẫu vi khuẩn thường được sắm thấy ở người và xâm chiếm dạ dày. Nó thường ko gây bệnh và nằm từ 2 phần ba dân số thế giới.

không những thế, H. Pylori cũng đã được chứng minh là gây ra đầy đủ các vết loét dạ dày và là một nhân tố nguy cơ được biết đến đối với bao tử, hoặc dạ dày, ung thư .

Diệt trừ H. Pylori khiến cho giảm đáng nói nguy cơ phát triển ung thư bao tử, nhưng, ngay cả lúc vi khuẩn đã bị tiêu diệt, 1 tỷ lệ đáng nhắc các tư nhân vẫn tiếp tục tăng trưởng ung thư dạ dày.

tại sao điều này với thể là trường hợp ko được hiểu rõ. Cách đây không lâu, một nhóm các nhà nghiên cứu trong khoảng Khoa Y tại Đại học Hồng Kông ở Trung Quốc đã quyết định xem xét vấn đề này. Đặc biệt quan tâm là thuốc ức chế bơm proton (PPI), là những thuốc chống trào ngược axit phổ quát .

PPI và ung thư bao tử

PPI thường được coi là an toàn, nhưng vì được tiêu dùng đa dạng nên họ đã nhận được hầu hết nghiên cứu. Theo các tác kém chất lượng của nghiên cứu mới, tiêu dùng PPI dài hạn có can dự tới 1 loạt các tình trạng, bao gồm " gãy xương , nhiễm trùng Clostridium difficile , viêm phổi , nhồi máu cơ tim và thậm chí là đột quỵ ".

nhóm nghiên cứu quy tụ vào PPI vì một thẩm định vừa mới đây và Phân tích tổng hợp đã tậu thấy mối can hệ giữa việc sử dụng PPI lâu dài và nâng cao nguy cơ ung thư bao tử.

Điều chậm tiến độ đang được nói, việc thẩm định đã thất bại trong việc phân tách những người tham dự H. PyloriH. Pylori -negative, làm cho không thể biết được H. Pylori hay PPI là người chơi chính trong tương tác.

Trong cuộc dò la mới, các nhà kỹ thuật đặt ra "xác định nguy cơ tăng trưởng ung thư dạ dày ở các người đã điều trị H. Pylori, hội tụ vào vai trò của PPI dài hạn".

Để trêu chọc vai trò của H. Pylori và PPI, họ đã so sánh quý khách PPI sở hữu những người tiêu dùng chất đối kháng thụ thể H2 (thuốc chẹn H2), 1 cái thuốc chống trào ngược axit khác được dùng để khiến cho giảm phân phối axit trong dạ dày.

Nguy cơ ung thư sau khi điều trị bằng ba

Tổng cộng, nghiên cứu bao gồm 63.397 người tham dự trưởng thành, đông đảo đều được điều trị bằng liệu pháp ba. Đây là sự hài hòa giữa PPI và hai loại kháng sinh\ được ngoài mặt để xoá sổ H. Pylori. Liệu pháp ba kéo dài 7 ngày.

Mỗi cá nhân được theo dõi cho tới lúc họ bị ung thư dạ dày, chết hoặc nghiên cứu chấm dứt. Điều này mất làng nhàng 7,5 năm.

Trong giai đoạn nghiên cứu, 3.271 người đã tiêu dùng PPI trong nhàng nhàng sắp 3 năm, khi mà 21.729 các bạn thuốc chẹn H2. Nhìn chung, 153 người bị ung thư dạ dày sau lúc điều trị bằng ba.

Kết quả cho thấy những người dùng PPI mang nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao hơn 2 lần (2,44), khi mà Đó, thuốc chẹn H2 không phù hợp đến nguy cơ gia tăng.

Sự gia tăng rủi ro liên quan đến PPI phù hợp sở hữu tần suất sử dụng: các người dùng thuốc hàng ngày với nguy cơ cao hơn bốn lần (4,55) so mang các quý khách chúng hàng tuần.

tuy nhiên, thời gian dùng thuốc càng lâu, nguy cơ vững mạnh ung thư dạ dày càng cao. Chẳng hạn, rủi ro tăng gấp năm lần sau hơn 1 năm sử dụng, hơn sáu lần sau hai năm trở lên và hơn tám lần sau 3 năm trở lên.

Theo những nhà nghiên cứu, đây là "nghiên cứu đầu tiên chứng minh rằng sử dụng PPI trong khoảng thời gian dài, ngay cả sau lúc điều trị tiệt trừ H. Pylori , vẫn với can dự tới việc nâng cao nguy cơ ung thư bao tử."

Tin tức y tế bữa nay đã nói chuyện sở hữu giáo sư WK Leung về cách thức kết quả của thể nghiệm này thêm vào công tác trước đây chứng minh mối liên hệ giữa PPI và ung thư bao tử.

Ông giảng giải rằng các nghiên cứu trước chậm tiến độ "bị bối rối bởi sự hiện diện của nhiễm H. Pylori , đây là chất gây ung thư dạ dày quan trọng nhất".

"Nhiều nhà dò xét cũng có thiên hướng tin rằng việc diệt H. Pylori mang thể khiến giảm nguy cơ ung thư dù rằng việc tiêu dùng PPI liên tục", ông kể thêm. "Phát hiện này phân phối chứng cứ mạnh mẽ cho thấy rằng việc sử dụng PPI trong khoảng thời gian dài vẫn làm tăng nguy cơ ung thư bao tử sau khi dòng trừ H. Pylori ."

những bước tiếp theo

dù rằng nghiên cứu là Nhìn vào và bởi vậy không thể chứng minh được cội nguồn và kết quả, những tác kém chất lượng tự tín vào phát hiện của họ. Họ nói rõ rằng PPI an toàn khi dùng nhưng yêu cầu những thầy thuốc "nên thận trọng khi kê đơn PPI dài hạn [...] ngay cả sau lúc diệt H. Pylori thành công ".

Chúng tôi đã hỏi giáo sư Leung về kế hoạch nghiên cứu trong tương lai của mình. Ông nói: "Chúng tôi mang kế hoạch coi xét khía cạnh khác của câu chuyện. Thay vì xem xét tác hại có thể sở hữu của PPI, chúng tôi dự kiến dò hỏi xem [PPI] mang hiệu quả như thế nào trong việc ngăn chặn chảy máu loét dạ dày sau lúc loại bỏ H. Pylori như peptic chảy máu loét là một biến chứng quan yếu khác can dự đến H. Pylori . "

mang sự chú ý về PPI hiện đang tăng cường, không với nghi ngờ rằng mối quan hệ này sẽ được dò xét thêm.

Thuốc trào ngược axit bình thường làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày

Thuốc ức chế bơm proton, được tiêu dùng để điều trị trào ngược axit, là một trong những cái thuốc được kê đơn phổ thông nhất trên toàn cầu. Nhưng hiện nay, một nghiên cứu mới kết luận rằng họ có thể làm tăng nguy cơ ung thư bao tử nếu dùng trong một thời kì dài.

Theo 1 nghiên cứu cách đây không lâu, thuốc trào ngược axit với thể làm cho nâng cao nguy cơ ung thư dạ dày.[/caption]

Helicobacter pylori là một loại vi khuẩn thường được sắm thấy ở người và xâm chiếm bao tử. Nó thường ko gây bệnh và nằm từ hai phần ba dân số toàn cầu.

bên cạnh đó, H. Pylori cũng đã được chứng minh là gây ra hầu hết các vết loét bao tử và là một yếu tố nguy cơ được biết tới đối mang bao tử, hoặc dạ dày, ung thư .

Diệt trừ H. Pylori khiến giảm đáng đề cập nguy cơ vững mạnh ung thư dạ dày, nhưng, ngay cả lúc vi khuẩn đã bị tiêu diệt, 1 tỷ lệ đáng đề cập các tư nhân vẫn tiếp tục phát triển ung thư dạ dày.

vì sao điều này sở hữu thể là trường hợp không được hiểu rõ. Cách đây không lâu, 1 hàng ngũ các nhà nghiên cứu từ Khoa Y tại Đại học Hồng Kông ở Trung Quốc đã quyết định xem xét vấn đề này. Đặc trưng quan tâm là thuốc ức chế bơm proton (PPI), là các thuốc chống trào ngược axit phổ quát .

PPI và ung thư bao tử

PPI thường được coi là an toàn, nhưng vì được dùng nhiều nên họ đã nhận được phần đông nghiên cứu. Theo các tác giả của nghiên cứu mới, sử dụng PPI dài hạn có liên quan đến một loạt các tình trạng, bao gồm " gãy xương , nhiễm trùng Clostridium difficile , viêm phổi , nhồi máu cơ tim và thậm chí là đột quỵ ".

hàng ngũ nghiên cứu quy tụ vào PPI vì một thẩm định cách đây không lâu và Nhận định tổng hợp đã tìm thấy mối can hệ giữa việc sử dụng PPI trong tương lai và tăng nguy cơ ung thư bao tử.

Điều chậm triển khai đang được nhắc, việc thẩm định đã thất bại trong việc phân tách các người tham gia H. PyloriH. Pylori -negative, khiến cho không thể biết được H. Pylori hay PPI là người chơi chính trong tương tác.

Trong cuộc dò la mới, những nhà công nghệ đặt ra "xác định nguy cơ vững mạnh ung thư dạ dày ở các người đã điều trị H. Pylori, hội tụ vào vai trò của PPI dài hạn".

Để trêu chọc vai trò của H. Pylori và PPI, họ đã so sánh các bạn PPI có những người dùng chất đối kháng thụ thể H2 (thuốc chẹn H2), một chiếc thuốc chống trào ngược axit khác được tiêu dùng để làm giảm sản xuất axit trong dạ dày.

Nguy cơ ung thư sau lúc điều trị bằng ba

Tổng cùng, nghiên cứu bao gồm 63.397 người tham gia trưởng thành, tất cả đều được điều trị bằng liệu pháp ba. Đây là sự phối hợp giữa PPI và hai cái kháng sinh\ được bề ngoài để xoá sổ H. Pylori. Liệu pháp ba kéo dài 7 ngày.

Mỗi tư nhân được theo dõi cho đến khi họ bị ung thư dạ dày, chết hoặc nghiên cứu chấm dứt. Điều này mất làng nhàng 7,5 năm.

Trong giai đoạn nghiên cứu, 3.271 người đã dùng PPI trong trung bình gần 3 năm, trong khi 21.729 người mua thuốc chẹn H2. Nhìn chung, 153 người bị ung thư dạ dày sau khi điều trị bằng ba.

Kết quả cho thấy các người dùng PPI mang nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao hơn hai lần (2,44), trong khi Đó, thuốc chẹn H2 không liên quan đến nguy cơ gia tăng.

Sự gia nâng cao rủi ro can hệ đến PPI thích hợp với tần suất sử dụng: những người dùng thuốc hàng ngày sở hữu nguy cơ cao hơn bốn lần (4,55) so sở hữu những khách hàng chúng hàng tuần.

ngoài ra, thời kì dùng thuốc càng lâu, nguy cơ phát triển ung thư dạ dày càng cao. Chẳng hạn, rủi ro nâng cao gấp năm lần sau hơn một năm sử dụng, hơn sáu lần sau 2 năm trở lên và hơn tám lần sau 3 năm trở lên.

Theo những nhà nghiên cứu, đây là "nghiên cứu trước nhất chứng minh rằng dùng PPI trong khoảng thời gian dài, ngay cả sau lúc điều trị tiệt trừ H. Pylori , vẫn có can dự tới việc tăng nguy cơ ung thư bao tử."

Tin tức y tế hôm nay đã nói chuyện sở hữu giáo sư WK Leung về phương pháp kết quả của thí nghiệm này thêm vào công tác trước đây chứng minh mối liên hệ giữa PPI và ung thư dạ dày.

Ông giảng giải rằng các nghiên cứu trước chậm tiến độ "bị bối rối bởi sự hiện diện của nhiễm H. Pylori , đây là chất gây ung thư bao tử quan yếu nhất".

"Nhiều nhà điều tra cũng sở hữu khuynh hướng tin rằng việc diệt H. Pylori sở hữu thể làm cho giảm nguy cơ ung thư mặc dầu việc dùng PPI liên tục", ông đề cập thêm. "Phát hiện này sản xuất bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng việc tiêu dùng PPI trong tương lai vẫn khiến cho nâng cao nguy cơ ung thư dạ dày sau khi loại trừ H. Pylori ."

các bước tiếp theo

dù rằng nghiên cứu là Nhìn vào và do đó không thể chứng minh được nguyên nhân và kết quả, các tác kém chất lượng tự tin vào phát hiện của họ. Họ đề cập rõ rằng PPI an toàn khi dùng nhưng yêu cầu các bác sĩ "nên thận trọng khi kê đơn PPI dài hạn [...] ngay cả sau lúc diệt H. Pylori thành công ".

Chúng tôi đã hỏi giáo sư Leung về kế hoạch nghiên cứu trong khoảng thời gian dài của mình. Ông nói: "Chúng tôi có kế hoạch xem xét khía cạnh khác của câu chuyện. Thay vì xem xét tác hại sở hữu thể mang của PPI, chúng tôi dự định dò la xem [PPI] với hiệu quả như thế nào trong việc ngăn chặn chảy máu loét dạ dày sau lúc loại bỏ H. Pylori như peptic chảy máu loét là một biến chứng quan trọng khác can hệ đến H. Pylori . "

mang sự chú ý về PPI hiện đang nâng cao cường, không với nghi ngờ rằng mối quan hệ này sẽ được thăm dò thêm.

Thuốc trào ngược axit thông thường khiến nâng cao nguy cơ ung thư dạ dày

Thuốc ức chế bơm proton, được dùng để điều trị trào ngược axit, là 1 trong những chiếc thuốc được kê đơn phổ biến nhất trên thế giới. Nhưng bây giờ, 1 nghiên cứu mới kết luận rằng họ có thể khiến nâng cao nguy cơ ung thư bao tử nếu như tiêu dùng trong 1 thời kì dài. Theo một nghiên cứu mới đây, thuốc trào ngược axit với thể khiến cho nâng cao nguy cơ ung thư bao tử. Trên cơ sở vật chất toàn cầu, ung thư dạ dày là ung thư phổ quát thứ năm và là nguồn gốc bậc nhất thứ ba gây tử vong do ung thư . Helicobacter pylori là 1 mẫu vi khuẩn thường được sắm thấy ở người và xâm chiếm dạ dày. Nó thường ko gây bệnh và nằm từ 2 phần ba dân số thế giới. không những thế, H. Pylori cũng đã được chứng minh là gây ra đầy đủ các vết loét dạ dày và là một nhân tố nguy cơ được biết đến đối với bao tử, hoặc dạ dày, ung thư . Diệt trừ H. Pylori khiến cho giảm đáng nói nguy cơ phát triển ung thư bao tử, nhưng, ngay cả lúc vi khuẩn đã bị tiêu diệt, 1 tỷ lệ đáng nhắc các tư nhân vẫn tiếp tục tăng trưởng ung thư dạ dày. tại sao điều này với thể là trường hợp ko được hiểu rõ. Cách đây không lâu, một nhóm các nhà nghiên cứu trong khoảng Khoa Y tại Đại học Hồng Kông ở Trung Quốc đã quyết định xem xét vấn đề này. Đặc biệt quan tâm là thuốc ức chế bơm proton (PPI), là những thuốc chống trào ngược axit phổ quát . PPI và ung thư bao tử PPI thường được coi là an toàn, nhưng vì được tiêu dùng đa dạng nên họ đã nhận được hầu hết nghiên cứu. Theo các tác kém chất lượng của nghiên cứu mới, tiêu dùng PPI dài hạn có can dự tới 1 loạt các tình trạng, bao gồm " gãy xương , nhiễm trùng Clostridium difficile , viêm phổi , nhồi máu cơ tim và thậm chí là đột quỵ ". nhóm nghiên cứu quy tụ vào PPI vì một thẩm định vừa mới đây và Phân tích tổng hợp đã tậu thấy mối can hệ giữa việc sử dụng PPI lâu dài và nâng cao nguy cơ ung thư bao tử. Điều chậm tiến độ đang được nói, việc thẩm định đã thất bại trong việc phân tách những người tham dự H. Pylori và H. Pylori -negative, làm cho không thể biết được H. Pylori hay PPI là người chơi chính trong tương tác. Trong cuộc dò la mới, các nhà kỹ thuật đặt ra "xác định nguy cơ tăng trưởng ung thư dạ dày ở các người đã điều trị H. Pylori, hội tụ vào vai trò của PPI dài hạn". Để trêu chọc vai trò của H. Pylori và PPI, họ đã so sánh quý khách PPI sở hữu những người tiêu dùng chất đối kháng thụ thể H2 (thuốc chẹn H2), 1 cái thuốc chống trào ngược axit khác được dùng để khiến cho giảm phân phối axit trong dạ dày. Nguy cơ ung thư sau khi điều trị bằng ba Tổng cộng, nghiên cứu bao gồm 63.397 người tham dự trưởng thành, đông đảo đều được điều trị bằng liệu pháp ba. Đây là sự hài hòa giữa PPI và hai loại kháng sinh\ được ngoài mặt để xoá sổ H. Pylori. Liệu pháp ba kéo dài 7 ngày. Mỗi cá nhân được theo dõi cho tới lúc họ bị ung thư dạ dày, chết hoặc nghiên cứu chấm dứt. Điều này mất làng nhàng 7,5 năm. Trong giai đoạn nghiên cứu, 3.271 người đã tiêu dùng PPI trong nhàng nhàng sắp 3 năm, khi mà 21.729 các bạn thuốc chẹn H2. Nhìn chung, 153 người bị ung thư dạ dày sau lúc điều trị bằng ba. Kết quả cho thấy những người dùng PPI mang nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao hơn 2 lần (2,44), khi mà Đó, thuốc chẹn H2 không phù hợp đến nguy cơ gia tăng. Sự gia tăng rủi ro liên quan đến PPI phù hợp sở hữu tần suất sử dụng: các người dùng thuốc hàng ngày với nguy cơ cao hơn bốn lần (4,55) so mang các quý khách chúng hàng tuần. tuy nhiên, thời gian dùng thuốc càng lâu, nguy cơ vững mạnh ung thư dạ dày càng cao. Chẳng hạn, rủi ro tăng gấp năm lần sau hơn 1 năm sử dụng, hơn sáu lần sau hai năm trở lên và hơn tám lần sau 3 năm trở lên. Theo những nhà nghiên cứu, đây là "nghiên cứu đầu tiên chứng minh rằng sử dụng PPI trong khoảng thời gian dài, ngay cả sau lúc điều trị tiệt trừ H. Pylori , vẫn với can dự tới việc nâng cao nguy cơ ung thư bao tử." Tin tức y tế bữa nay đã nói chuyện sở hữu giáo sư WK Leung về cách thức kết quả của thể nghiệm này thêm vào công tác trước đây chứng minh mối liên hệ giữa PPI và ung thư bao tử. Ông giảng giải rằng các nghiên cứu trước chậm tiến độ "bị bối rối bởi sự hiện diện của nhiễm H. Pylori , đây là chất gây ung thư dạ dày quan trọng nhất". "Nhiều nhà dò xét cũng có thiên hướng tin rằng việc diệt H. Pylori mang thể khiến giảm nguy cơ ung thư dù rằng việc tiêu dùng PPI liên tục", ông kể thêm. "Phát hiện này phân phối chứng cứ mạnh mẽ cho thấy rằng việc sử dụng PPI trong khoảng thời gian dài vẫn làm tăng nguy cơ ung thư bao tử sau khi dòng trừ H. Pylori ." những bước tiếp theo dù rằng nghiên cứu là Nhìn vào và bởi vậy không thể chứng minh được cội nguồn và kết quả, những tác kém chất lượng tự tín vào phát hiện của họ. Họ nói rõ rằng PPI an toàn khi dùng nhưng yêu cầu những thầy thuốc "nên thận trọng khi kê đơn PPI dài hạn [...] ngay cả sau lúc diệt H. Pylori thành công ". Chúng tôi đã hỏi giáo sư Leung về kế hoạch nghiên cứu trong tương lai của mình. Ông nói: "Chúng tôi mang kế hoạch coi xét khía cạnh khác của câu chuyện. Thay vì xem xét tác hại có thể sở hữu của PPI, chúng tôi dự kiến dò hỏi xem [PPI] mang hiệu quả như thế nào trong việc ngăn chặn chảy máu loét dạ dày sau lúc loại bỏ H. Pylori như peptic chảy máu loét là một biến chứng quan yếu khác can dự đến H. Pylori . " mang sự chú ý về PPI hiện đang tăng cường, không với nghi ngờ rằng mối quan hệ này sẽ được dò xét thêm.